TRƯỜNG THCS HÀM NGHI THẠCH HÀ HÀ TĨNH HỘI THI CHÚNG EM KỂ CHUYỆN BÁC HỒ
Bác Hồ với Thiếu niên và Nhi đồng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:01' 16-08-2024
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:01' 16-08-2024
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Bác Hồ với thiếu niên, nhi đồng
n TIÊN AN
Nhà thơ Tố Hữu đã viết:
“Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già…”
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí
Minh rất thương yêu và dành
nhiều tình cảm chăm sóc, giáo
dục thiếu niên, nhi đồng. Bác sinh
ra và lớn lên giữa lúc nước mất,
dân tộc bị lầm than, nô lệ, tuổi thơ
Bác gắn với những tháng năm “dữ
dội”; bởi vậy, Người hiểu sâu sắc
sự thiệt thòi, bất hạnh của trẻ em
Việt Nam trước “vận nước gian nan”, Bác đau
lòng trước cảnh:
“Trẻ em cũng bị bận thân cực lòng
Học hành, giáo dục đã không
Nhà nghèo lại phải làm công, cày bừa ...”.
Đối với Bác Hồ, thiếu nhi là lứa tuổi hồn
nhiên, thơ ngây, trong sáng chưa đủ để nhận
thức nên rất cần được chăm sóc, giáo dục tốt
mới trở thành công dân có ích, thế hệ gánh vác
sứ mệnh đất nước sau này, là người chủ tương
lai của nước nhà nên Bác luôn quan tâm giáo
dục và theo Bác là cần phải sớm rèn luyện đạo
đức cách mạng cho trẻ em. Bởi vậy, từ sau
Cách mạng Tháng Tám 1945 cho đến trước
lúc “đi xa”, Bác đã dành nhiều tâm huyết, tình
cảm giáo dục thế hệ trẻ thông qua nhiều bức
thư và những bài thơ chứa chan tình thương
yêu của Người.
Năm nay chúng ta kỷ niệm 72 năm, ngày
Quốc tế thiếu nhi (1/6/1950 - 1/6/2022). Kỷ
niệm ngày này, loài người không thể quên
hàng mấy trăm trẻ em vô tội ở làng Li-đi-xơ
thuộc Tiệp Khắc (1942) và ở thị trấn Ô-ra-đua
thuộc Pháp (1944) đã bị quân đội phát xít Hítle
tàn sát cực kỳ man rợ, mặc cho tiếng kêu gào
thảm thiết của các em. Kể từ ngày khủng khiếp
ấy, bao người vẫn chưa dứt cơn ác mộng về
chiến tranh và càng thấy trách nhiệm hơn. Với
(Ảnh sưu tầm)
trách nhiệm thiêng liêng và cao quý, năm 1949
Liên đoàn Phụ nữ dân chủ Quốc tế đã quyết
định lấy ngày 1/6 hằng năm làm ngày quốc tế
bảo vệ thiếu nhi, nhằm đòi chính phủ các nước
phải nhận trách nhiệm về đời sống thiếu nhi,
đòi giảm ngân sách quân sự để tăng ngân sách
giáo dục, bảo vệ và chăm sóc thiếu niên, nhi
đồng. Năm 1959, Tuyên bố về quyền trẻ em
được ra đời; năm 1989, Công ước về quyền trẻ
em cũng được ký kết vào ngày này, có hơn 191
nước phê chuẩn. Việt Nam là nước đầu tiên ở
châu Á và nước thứ hai của thế giới ký vào
Công ước này.
Ở nước ta, Ngày Quốc tế Thiếu nhi đầu tiên
(1/6/1950) trong giai đoạn cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp. Lúc này dân tộc ta đang
trải qua thời kỳ cam go ác liệt nhất, nhưng Bác
Hồ vẫn luôn nghĩ tới thiếu nhi cả nước và gửi
thư chúc mừng các cháu thiếu niên, nhi đồng.
Bác viết: “Bác thương các cháu lắm, Bác hứa
với các cháu rằng đến ngày đánh đuổi hết
giặc Pháp, kháng chiến thành công, Bác cùng
Chính phủ và các đoàn thể sẽ cố gắng làm cho
các cháu dần dần được no ấm, được vui chơi,
được học hành, được vui sướng…”. Cũng từ
đó, hằng năm cứ đến ngày Tết thiếu nhi và Tết
Trung thu, thiếu nhi cả nước ta lại hân hoan
đón thư chúc mừng của Bác Hồ. Thư của Bác
1
thường gọn, lời lẽ âu yếm, giản dị rất dễ nhớ,
dễ thuộc nên dễ đi vào tâm hồn trẻ thơ. Trong
thư của Bác ngoài chứa đựng tư tưởng lớn, còn
là những lời chỉ bảo ân cần, dạy dỗ thiếu niên,
nhi đồng từ việc nhỏ đến việc lớn rất cụ thể:
“Ở nhà phải nghe lời bố mẹ. Đi học phải siêng
năng. Đối với thầy phải kính trọng, lễ phép.
Đối với bạn phải đoàn kết, thương yêu giúp đỡ
lẫn nhau”; “Giữ kỷ luật, chớ tự do phóng túng,
vì tự do phóng túng là không tốt”; “Phải yêu
Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động”; “Phải
thật thà, dũng cảm”; “Việc gì có ích cho kháng
chiến, có ích cho Tổ quốc thì các cháu nên
gắng sức làm. Tuổi các cháu còn nhỏ, nhiều
công việc nhỏ cộng lại thành công việc to”...
Tình yêu thương của Bác Hồ bao la vô hạn,
Người đã quên mình dành “hết thảy” cho mọi
người dân Việt Nam và cho những ai lao khổ,
bị áp bức, đọa đày trên toàn thế giới. Theo Bác,
khi đất nước bị nô lệ thì người già và trẻ em
chịu nhiều thiệt thòi nhất. Tình yêu thương và
sự quan tâm được Người thể hiện trong các bài
nói, nhiều bức thư và thơ. Trong những năm
bôn ba đi tìm đường cứu nước, chứng kiến trẻ
em ở các nước thuộc địa cũng bị lầm than, cơ
cực, Bác nghĩ về đất nước, thương thiếu niên,
nhi đồng ở nước nhà đang bị chà đạp, bất hạnh
trong nỗi đau chung của người dân mất nước.
Hơn hết, Bác Hồ đặc biệt quan tâm và luôn
luôn nhắc nhở, khích lệ các cháu là học tập,
học sao cho tốt, cho giỏi, bởi rằng … “Non
sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không,
dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai
các cường quốc năm châu hay không chính
là nhờ một phần lớn ở công học tập của các
cháu…”. Con người là vốn quý, thiếu nhi là
vốn quý nhất trong vốn quý ấy. Bác Hồ chỉ
rõ: “Ngày nay chúng là thiếu nhi, ít năm sau
chúng sẽ là công dân, cán bộ”. Điều này có
nghĩa rằng hôm nay chúng ta chuẩn bị cho
các em như thế nào, nay mai hệ quả gặt hái
được sẽ như thế ấy. Nhằm mục tiêu đào tạo
các em thành “người chủ tương lai của nước
nhà, người công dân tốt, người cán bộ tốt của
nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập,
dân chủ và giàu mạnh”. Bác Hồ đặt ra yêu cầu
thực hiện giáo dục toàn diện đối với thiếu nhi.
Vào dịp kỷ niệm lần thứ 20 Ngày thành lập
2
Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Người
đã gửi thư cho thiếu niên, nhi đồng cả nước và
căn dặn năm điều:
“Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào.
Học tập tốt, lao động tốt.
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt.
Giữ gìn vệ sinh thật tốt.
Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm.”
Năm điều Bác dạy thiếu nhi hàm chứa
những truyền thống quý báu từ bao đời nay
của dân tộc ta. Đó là truyền thống yêu nước
nồng nàn, kiên cường chiến đấu chống mọi kẻ
thù xâm lược, ham học hỏi, cầu tiến bộ; đoàn
kết, nhân ái, thương người như thể thương
thân, lao động cần cù, dũng cảm, sáng tạo
và mối quan hệ tin cậy chân thật trong cộng
đồng… Năm điều Bác Hồ dạy thiếu nhi phản
ánh những đặc trưng cơ bản của lớp người mới
được hình thành trong quá trình xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa mang tính
toàn diện rõ rệt. Năm điều ấy cũng phản ánh
nguyên lý giáo dục mới của Đảng ta là học đi
đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động,
sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội. Tất
cả các em cũng như các nhà giáo dục, các cán
bộ làm công tác thiếu nhi, các bậc cha mẹ…
cần luôn luôn thấm nhuần, quán triệt nội dung
Năm điều Bác Hồ dạy trong mọi môi trường
giáo dục, rèn luyện, để các em phấn đấu trở
thành con ngoan, trò giỏi, đội viên tốt, Cháu
ngoan Bác Hồ.
Cùng với Năm điều Bác dạy đó, di sản lý
luận và những lời dạy, những kinh nghiệm
thực tiễn về giáo dục thiếu nhi mà Bác đã để
lại cho chúng ta hết sức phong phú trên nhiều
bình diện. Trách nhiệm nặng nề, khó khăn của
chúng ta là quán triệt, thấm nhuần và vận dụng
những tư tưởng, luận điểm, lời dạy của Người
sao cho đúng, sao cho hiệu quả vào cuộc sống.
Bác dạy: “Trồng người phải mất trăm năm”;
giáo dục thiếu nhi “phải giữ toàn vẹn cái tính
vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của
chúng, chớ nên làm cho chúng hoá ra những
người già sớm” và Bác luôn căn dặn chúng ta
việc dạy chữ phải luôn đi đôi với việc dạy các
em làm người; việc chăm sóc luôn phải đi đôi
(xem tiếp trang 4)
ĐẢNG ỦY SỞ TƯ PHÁP TỔ CHỨC LỄ TRAO TẶNG
HUY HIỆU 30 NĂM TUỔI ĐẢNG CHO ĐẢNG VIÊN
THUỘC ĐẢNG BỘ SỞ TƯ PHÁP
n
THÙY TRANG
Hòa trong không khí
phấn khởi của toàn tỉnh
hăng hái thi đua lập thành
tích chào mừng kỷ niệm 132
năm ngày sinh Chủ tịch Hồ
Chí Minh vĩ đại (19/5/1890
-19/5/2022). Được sự nhất
trí của Ban Thường vụ Đảng
ủy Khối Cơ quan và Doanh
nghiệp tỉnh, sáng ngày 19
tháng 5 năm 2022, Đảng ủy
Sở Tư pháp đã long trọng tổ
chức Lễ trao tặng Huy hiệu
30 năm tuổi Đảng cho đồng
chí Nguyễn Thanh Sơn Phó Giám đốc Sở Tư pháp
Đồng chí Nguyễn Thanh Sơn và đồng chí Phan Bá Mỹ chụp ảnh
và đồng chí Phan Bá Mỹ
kỷ niệm cùng các đảng viên khối Văn phòng Sở
- Trưởng phòng Phổ biến,
giáo dục pháp luật, Sở Tư pháp.
Tham dự và chỉ đạo buổi Lễ có đồng chí Võ giai đoạn năm 1989 - 1991 được đánh giá là
Văn Phúc - Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng giai đoạn lịch sử khó khăn đối với Việt Nam
Ban Tổ chức Đảng ủy Khối Cơ quan và Doanh nói riêng và phong trào cộng sản quốc tế nói
nghiệp tỉnh, đồng chí Đào Chuẩn - Giám đốc chung, do đó, những cán bộ, chiến sĩ được kết
Sở Tư pháp; đồng chí Nguyễn Văn Hưng - Bí nạp đảng trong giai đoạn này thể hiện cho sự
thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, các trung thành tuyệt đối và niềm tin mãnh liệt đối
đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Sở với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tư pháp, Bí thư các Chi bộ trực thuộc cùng Có thể nói, huy hiệu 30 năm tuổi Đảng chính
là sự ghi nhận quá trình phấn đấu, rèn luyện,
toàn thể đảng viên Khối Văn phòng Sở.
Trong không khí trang nghiêm của buổi đóng góp của 02 đồng chí đảng viên trong sự
lễ, thay mặt Đảng ủy Khối cơ quan và doanh nghiệp bảo vệ, xây dựng Tổ quốc. Qua buổi lễ
nghiệp tỉnh, đồng chí Võ Văn Phúc, Ủy viên hôm nay, đồng chí mong muốn 02 đảng viên
Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tổ chức Đảng được trao tặng Huy hiệu Đảng sẽ luôn giữ gìn,
ủy Khối cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh đã trao bảo quản danh hiệu cao quý này để sử dụng
tặng Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng cho đồng chí trong những dịp kỷ niệm trọng đại của bản
Nguyễn Thanh Sơn và đồng chí Phan Bá Mỹ. thân, cơ quan, đơn vị cũng như của đất nước;
Phát biểu tại buổi Lễ, đồng chí đã tóm lược một đồng thời tiếp tục phát huy truyền thống đoàn
số điểm nổi bật trong quá trình phấn đấu, rèn kết, thống nhất, tiền phong, gương mẫu, phấn
luyện và tu dưỡng của đồng chí Nguyễn Thanh đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao,
Sơn và đồng chí Phan Bá Mỹ. Theo đồng chí, góp phần vào thực hiện thắng lợi mọi nhiệm
3
vụ công tác Đảng bộ và của cơ quan nơi mình
công tác.
Trân trọng những tình cảm của Đảng ủy Sở
và đồng chí Võ Văn Phúc, đồng chí Nguyễn
Thanh Sơn đã có đôi lời tâm sự gửi đến toàn
thể đảng viên tham dự. Đồng chí được kết
nạp vào Đảng ngày 13 tháng 12 năm 1991 và
trưởng thành từ sinh viên, giáo viên. Trong
suốt ba mươi năm tôi luyện, đồng chí đã kinh
qua các chức vụ, đơn vị công tác từ Tỉnh đoàn,
Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh, Hội đồng
nhân dân tỉnh và nay là Sở Tư pháp tỉnh Thừa
Thiên Huế. Dù ở bất kỳ cương vị nào, đồng
chí đều phát huy phẩm chất của người cán bộ,
đảng viên, luôn nêu cao tinh thần gương mẫu,
không ngừng phấn đấu, rèn luyện và là niềm tự
hào của cơ quan, đơn vị.
Cùng chia sẻ tâm trạng xúc động tại buổi
lễ, đồng chí Phan Bá Mỹ cũng đã gửi lời cám
ơn chân thành đến Đảng ủy Sở, Đảng ủy
Khối và tập thể Lãnh đạo Sở Tư pháp. Đối
với đồng chí, thời khắc được nhận Huy hiệu
Đảng chính là bước ngoặt trong quá trình từ
một chiến sỹ công binh trẻ tuổi, không quản
khó khăn để xung phong góp phần xây dựng
Quần đảo Trường Sa, đến khi trưởng thành và
công tác tại Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế.
Phát huy phẩm chất bộ đội cụ Hồ, đồng chí
luôn là người cán bộ mẫu mực, dành được sự
tôn trọng của các đảng viên, quần chúng tại cơ
quan, đơn vị.
Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng không chỉ là
một danh hiệu cao quý, một phần thưởng xứng
đáng dành cho người cán bộ, đảng viên kiên
trung của Đảng, là sự đánh dấu quan trọng
trong sự phát triển của Đảng bộ Sở Tư pháp,
mà còn là tấm gương sáng để thế hệ đảng viên
trẻ học tập và noi theo./.
Bác Hồ với thiếu niên, nhi đồng
với việc bảo vệ thiếu nhi, giáo dục trong tổ
chức Đội…, nếu bảo vệ không tốt sẽ làm hạn
chế, thậm chí xâm hại đến thành quả giáo dục.
Và còn biết bao nội dung, luận điểm về giáo
dục thiếu nhi của Bác mà chúng ta cần dành
nhiều tâm lực, thời gian để nghiên cứu, quán
triệt, vận dụng trong điều kiện mới.
Trước lúc đi xa, qua “Di chúc” thiêng liêng,
Bác gửi muôn vàn tình yêu thương cho dân tộc
Việt Nam, trong đó Người không quên nhắc
đến thế hệ thiếu niên, nhi đồng bằng những
tình cảm đặc biệt: “Cuối cùng, tôi để lại muôn
vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho
toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi
đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các
đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên,
nhi đồng quốc tế”. Bác đã đi xa nhưng những
lời căn dặn, hành động, tình cảm của Bác sẽ
mãi mãi khắc sâu trong tâm trí thiếu nhi nói
riêng và mỗi người dân Việt nói chung.
Ngày nay, thực hiện tư tưởng và Di chúc
của Bác Hồ, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm
đến thiếu niên, nhi đồng, chú trọng công tác
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Trong
đời sống xã hội, Đảng, Quốc hội, Chính phủ
4
(tiếp theo trang 2)
đã ban hành Hiến pháp, Luật, hàng trăm văn
bản để bảo vệ quyền trẻ em. Như: Hiến pháp
năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013),
đặc biệt là quyền tham gia của trẻ em đã được
quy định trong Luật trẻ em 2016; Nghị định
56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính
phủ quy định chi tiết một số điều của Luật trẻ
em, Bộ luật Hình sự, Bộ Luật Tố tụng hình
sự... Lòng yêu thương và những lời dạy của
Bác Hồ vẫn luôn đồng hành cùng thiếu niên,
nhi đồng mọi thời đại. Lời dạy “Vì lợi ích
mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng
người” của Bác Hồ đã, đang và sẽ tiếp tục
được toàn Đảng, toàn dân ta học tập, làm theo
với phương châm “trẻ em hôm nay, thế giới
ngày mai”! Nhớ ơn Bác, toàn thể thiếu niên,
nhi đồng Việt Nam nguyện cố gắng học tập,
tu dưỡng và rèn luyện thật tốt, trở thành con
ngoan, trò giỏi để xứng đáng với danh hiệu
“cháu ngoan Bác Hồ” và sẽ mãi mãi “Ai yêu
Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên, nhi đồng.
Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu nhi Việt
Nam… Hồ Chí Minh kính yêu chúng em kính
yêu Bác Hồ Chí Minh trọn một đời” như lời
nhạc sĩ Phong Nhã đã viết./.
MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC QUA 15 NĂM
THI HÀNH LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI SỞ TƯ PHÁP
n
THIÊN AN
Trên cơ sở Chương trình, Kế
hoạch của Bộ Tư pháp và Ủy
ban nhân dân tỉnh về hoạt động
bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ
nữ, thời gian qua, Sở Tư pháp đã
ban hành và tổ chức thực hiện
nhiều hoạt động bình đẳng giới,
vì sự tiến bộ phụ nữ của ngành
tại địa phương qua các giai đoạn
2007 - 2010, 2011 - 2015, 2016
- 2020 và giai đoạn 2021 - 2025.
Trong đó, đã đưa nội dung hoạt
động bình đẳng giới vào chương
trình công tác hàng năm của cơ
quan để tổ chức thực hiện lồng Lãnh đạo Sở Tư pháp tặng hoa, chúc mừng công chức, viên chức,
ghép với các hoạt động chuyên
người lao động nữ nhân kỷ niệm ngày Quốc tế phụ nữ 08 - 3
môn và đạt được một số kết quả
đáng ghi nhận, như sau:
Với vai trò là cơ quan thường trực của Hội pháp luật”. Thường xuyên bổ sung các đầu
đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục sách về phòng, chống bạo lực gia đình, phòng
pháp luật tỉnh, công tác quán triệt, phổ biến, ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới cho
giáo dục pháp luật về bình đẳng giới được Sở Tủ sách pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho
Tư pháp tổ chức với nhiều hình thức đa dạng, cán bộ, công chức, viên chức tìm đọc, nghiên
phong phú, như: Ký hợp đồng tuyên truyền, cứu nhằm nâng cao nhận thức và ý thức trách
phổ biến, giáo dục pháp luật với Báo Thừa nhiệm trong công tác phòng, chống bạo lực gia
Thiên Huế, Đài phát thanh truyền hình tỉnh đình, phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên
để tuyên truyền, phổ biến nội dung của Luật cơ sở giới... Đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
Bình đẳng giới; biên soạn, biên tập bài tại các phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý
ấn phẩm do Sở Tư pháp phát hành như: Bản tin gắn với việc triển khai thực hiện đưa nội dung
Tư pháp, sách “Bạn và những điều cần biết về tuyên truyền, phổ biến Luật phòng, chống bạo
pháp luật”, sách “Pháp luật với công dân”, sách lực gia đình, phòng ngừa và ứng phó với bạo
“Tài liệu phổ biến pháp luật cho đối tượng đặc lực trên cơ sở giới vào chương trình phổ biến,
thù nạn nhân bạo lực gia đình”, sách “Hướng giáo dục pháp luật các huyện, thị xã, thành phố,
dẫn nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở” cùng hàng các tổ hòa giải ở cơ sở thực hiện tốt công tác
trăm nghìn tờ gấp pháp luật có nội dung liên tuyên truyền, vận động đặc biệt là hòa giải các
quan về phòng, chống bạo lực gia đình, bình mâu thuẫn và tranh chấp giữa các thành viên
đẳng giới… để cấp phát cho nhân dân tại cơ trong gia đình, góp phần ngăn chặn bạo lực gia
sở và làm tài liệu tuyên truyền. Lồng ghép nội đình, bạo lực trên cơ sở giới.
dung bình đẳng giới trong các đợt, buổi sinh
Thực hiện Thông tư liên tịch số 07/2011/
hoạt quán triệt các chủ trương của Đảng, chính TT-BTP ngày 31/3/2011 của Bộ Tư pháp,
sách pháp luật của Nhà nước, sinh hoạt “Ngày nhằm đảm bảo bình đẳng giới trong hoạt động
5
trợ giúp pháp lý, Sở Tư pháp đã phối hợp với
Hội liên hiệp phụ nữ các cấp, Liên đoàn lao
động tỉnh triển khai thực hiện Chương trình
phối hợp liên ngành về “Thực hiện lồng ghép
giới trong hoạt động trợ giúp pháp lý giai đoạn
2007 - 2009”, Kế hoạch thực hiện Đề án “Giáo
dục 5 triệu bà mẹ nuôi, dạy con tốt” tỉnh Thừa
Thiên Huế, giai đoạn 2012-2015, Quyết định
của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án
“Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân
cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số
giai đoạn 2015 - 2025” và các Kế hoạch liên
ngành của Sở Tư pháp và Hội liên hiệp phụ nữ
tỉnh về thực hiện công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật, trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật
cho phụ nữ. Qua đó, đã thực hiện trợ giúp pháp
lý lưu động cho phụ nữ có con dưới 16 tuổi,
tập huấn kiến thức về quyền trẻ em, nâng cao
hiểu biết kiến thức pháp luật về Luật Phòng,
chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới,
Luật Trợ giúp pháp lý, Công ước Liên hợp
quốc về quyền trẻ em (CRC)..., xóa bỏ phân
biệt đối xử về giới trong gia đình, tạo cơ hội
và quyền bình đẳng cho bé trai và bé gái, hạn
chế tình trạng bạo lực trong gia đình tại các xã
Bình Điền, Hải Dương của thị xã Hương Trà,
xã Hương Giang, thị trấn Khe Tre của huyện
Nam Đông. Cấp phát hơn 120.000 nghìn tờ
gấp, tờ rơi pháp luật, riêng về phòng, chống
bạo lực gia đình, Bình đẳng giới hơn 40 nghìn
tờ và hơn 5 nghìn tờ gấp tờ rơi tiếng dân tộc
thiểu số, cấp phát miễn phí cho nhân dân, cho
phụ nữ tại địa phương nhằm triển khai các văn
bản pháp luật đến với nhân dân được dễ dàng
và sâu rộng hơn. 15 năm qua, Trung tâm Trợ
giúp pháp lý Nhà nước thực hiện trợ giúp pháp
lý cho phụ nữ 5.512 vụ việc, trong đó phụ nữ
bị bạo lực gia đình: 1.918 vụ việc, trẻ em gái
bị xâm hại: 732 vụ việc; phụ nữ, trẻ em gái
là bị cáo vi phạm pháp luật hình sự: 635 vụ
việc, phụ nữ thuộc hộ nghèo, người dân tộc:
2.227 vụ việc. Thông qua việc lồng ghép tuyên
truyền, phổ biến pháp luật và trợ giúp pháp lý
tại các đợt trợ giúp pháp lý lưu động đã thu hút
hơn 23.563 lượt người tham gia, tư vấn 8.832
vụ việc, trong đó số lượng phụ nữ tham gia
khoảng hơn 11.000 người tại các đợt trợ giúp
pháp lý.
6
Công tác lồng ghép vấn đề bình đẳng giới
trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật,
chính sách, chương trình được tổ chức thực
hiện nghiêm túc theo quy định. Trong 15 năm
qua, 100% dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật của HĐND và UBND tỉnh ban hành đều
được Sở Tư pháp thẩm định, đánh giá việc lồng
ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn
bản theo đúng nguyên tắc của Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật (năm 2015), Luật
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật (năm 2020),
Luật Bình đẳng giới (năm 2006) và các văn
bản hướng dẫn thi hành. Công tác rà soát văn
bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo
định kỳ. Hằng năm, UBND tỉnh đều xây dựng
Kế hoạch thực hiện rà soát văn bản quy phạm
pháp luật do HĐND, UBND tỉnh ban hành
với mục đích xem xét lại các văn bản đã ban
hành nhằm phát hiện những nội dung chồng
chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp với
pháp luật để tự mình hoặc đề nghị cấp có thẩm
quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Qua
rà soát, có 03 văn bản quy phạm pháp luật
hết hiệu lực, gồm 02 Nghị quyết và 01 Quyết
định. Tổ chức 15 Hội nghị tập huấn cho cán
bộ làm công tác pháp chế tại các Sở, ngành,
địa phương, trong đó, có lồng ghép nội dung
tập huấn kiến thức về giới, phân tích giới và
lồng ghép giới cho thành viên Ban soạn thảo
văn bản quy phạm pháp luật được xác định có
nội dung liên quan đến bình đẳng giới hoặc có
vấn đề bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về
giới; cử thành viên các Ban soạn thảo, Tổ biên
tập xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật tham dự các lớp tập huấn về công tác bình
đẳng giới và công tác lồng ghép giới trong việc
thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, qua đó đã
nâng cao nhận thức, năng lực, kỹ năng hoạt
động trong lĩnh vực này.
Công tác đảm bảo thực hiện các quy định
về bình đẳng giới trong công tác tổ chức tại cơ
quan trong những năm qua được Sở Tư pháp
quan tâm, chú trọng đến công tác quy hoạch
đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, nhất là đối
với cán bộ nữ. Trên cơ sở đánh giá năng lực,
phẩm chất đội ngũ cán bộ, công chức của cơ
(xem tiếp trang 10)
CÁC NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN
LẬP BIÊN BẢN VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ MỘT SỐ
VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý
n NGUYỄN
VĂN HÓA
Biên bản vi phạm hành chính
là cơ sở pháp lý quan trọng để
người có thẩm quyền ban hành
quyết định xử phạt vi phạm hành
chính. Lập biên bản vi phạm
hành chính là một thủ tục được
thực hiện trong quy trình xử phạt
vi phạm hành chính (trừ trường
hợp xử phạt vi phạm hành chính
không lập biên bản theo quy
định tại Điều 56 Luật Xử lý vi
phạm hành chính).
Lập một biên bản vi phạm
hành chính đúng với quy định
pháp luật là nhiệm vụ quan trọng
đối với cán bộ, công chức được Sở Tư pháp tham dự Hội nghị tập huấn chuyên sâu về pháp luật
phân công tham mưu thiết lập
xử phạt vi phạm hành chính tại thành phố Đà Nẵng
biên bản vi phạm hành chính.
Từ thực tiễn thi hành, trong bài viết này tôi xin chính phải lập biên bản vi phạm hành chính
trao đổi một số nội dung có liên quan đến lập bao gồm:
biên bản vi phạm hành chính như sau:
(i) Trường hợp thứ nhất là trong quyết định
1. Các trường hợp người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có hình thức phạt
phải lập biên bản vi phạm hành chính
tiền mà mức phạt tiền trên 250.000 đồng đối
Luật Xử lý vi phạm hành chính không quy với cá nhân, trên 500.000 đồng đối với tổ chức;
định cụ thể về các vụ việc vi phạm thuộc trường
(ii) Trường hợp thứ hai là trong quyết định
hợp phải lập biên bản vi phạm hành chính mà xử phạt vi phạm hành chính có hình thức xử
thiết kế theo phương pháp loại trừ: Xử phạt phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm
vi phạm hành chính có lập biên bản được áp hành chính; tước quyền sử dụng giấy phép,
dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của chứng chỉ hành nghề có thời hạn; đình chỉ hoạt
cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không động có thời hạn; hình thức xử phạt trục xuất
thuộc trường hợp quy định tại đoạn 1 khoản 1 và biện pháp khắc phục hậu quả.
Điều 56 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
(iii) Trường hợp thứ ba là vi phạm hành
Căn cứ một số quy định có liên quan đến việc chính được phát hiện nhờ sử dụng phương
lập biên bản vi phạm hành chính trong Luật tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ.
Xử lý vi phạm hành chính (Điều 57, Điều 58,
2. Xác định chủ thể có thẩm quyền lập
Điều 63), Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày biên bản vi phạm hành chính
23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết
Trên cơ sở quy định của Luật Xử lý vi
một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử phạm hành chính, Nghị định số 118/2021/
lý vi phạm hành chính (Điều 12) có thể xác NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy
định các trường hợp xử phạt vi phạm hành định chi tiết một số điều và biện pháp thi
7
hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, thì chủ
thể có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành
chính, bao gồm:
(i) Người có thẩm quyền xử phạt;
(ii) Công chức, viên chức;
(iii) Người thuộc lực lượng Quân đội nhân
dân, Công an nhân dân và người làm công tác
cơ yếu đang thi hành công vụ, nhiệm vụ;
(iv) Người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng,
trưởng tàu và những người được chỉ huy tàu
bay, thuyền trưởng, trưởng tàu giao nhiệm vụ
lập biên bản.
Lưu ý: Theo quy định tại Điều 6 Nghị định
số 118/2021/NĐ-CP thì các chức danh có thẩm
quyền lập biên bản vi phạm hành chính được
quy định cụ thể tại các nghị định quy định về
xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh
vực quản lý nhà nước.
3. Về nội dung của biên bản vi phạm
hành chính
Biên bản vi phạm hành chính phải bao gồm
các nội dung cơ bản sau đây:
- Ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản;
- Họ và tên, chức vụ người lập biên bản;
- Thông tin về cá nhân, tổ chức vi phạm và
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
- Giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra
vi phạm;
- Mô tả cụ thể, đầy đủ vụ việc, hành vi
vi phạm;
- Biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi
phạm hành chính;
- Lời khai của người vi phạm hoặc đại diện
tổ chức vi phạm (đại diện theo pháp luật hoặc
đại diện theo ủy quyền);
- Lời khai của người chứng kiến, người bị
thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại (nếu
có); ý kiến của cha mẹ hoặc của người giám
hộ trong trường hợp người chưa thành niên vi
phạm hành chính (nếu có);
- Quyền và thời hạn giải trình về vi phạm
hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm,
cơ quan của người có thẩm quyền tiếp nhận
giải trình; trường hợp cá nhân, tổ chức
không yêu cầu giải trình, thì phải ghi rõ ý
kiến vào biên bản;
- Thời gian, địa điểm người vi phạm hoặc
đại diện tổ chức vi phạm phải có mặt để giải
quyết vụ việc;
- Họ và tên người nhận, thời gian nhận
8
biên bản trong trường hợp biên bản được giao
trực tiếp.
4. Về thời hạn lập biên bản vi phạm
hành chính
Theo quy định hiện hành thì thời hạn lập
biên bản vi phạm hành chính được thực hiện
như sau:
(i) Biên bản vi phạm hành chính được lập
trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ khi phát
hiện vi phạm hành chính;
(ii) Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết
phức tạp hoặc có phạm vi rộng, ảnh hưởng
đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ
chức, thì biên bản vi phạm hành chính được
lập trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi
phát hiện vi phạm hành chính;
(iii) Trường hợp vi phạm hành chính được
phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật
nghiệp vụ hoặc phải xác định giá trị tang vật,
phương tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm
định, xét nghiệm và xác minh tình tiết liên
quan, thì biên bản vi phạm hành chính được
lập trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày
xác định được đối tượng vi phạm bằng phương
tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hoặc nhận
được kết quả xác định giá trị tang vật, phương
tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét
nghiệm và xác minh tình tiết liên quan;
(iv) Trường hợp vi phạm hành chính xảy ra
trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa, thì người có thẩm
quyền lập biên bản vi phạm hành chính hoặc
người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng
tàu có trách nhiệm lập biên bản vi phạm hành
chính và chuyển cho người có thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 02
ngày làm việc, kể từ khi tàu bay, tàu biển, tàu
hỏa về đến sân bay, bến cảng, nhà ga;
(v) Trường hợp một vụ việc có nhiều hành
vi vi phạm hành chính khác nhau, trong đó
có hành vi được phát hiện bằng phương tiện,
thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hoặc phải xác định
giá trị tang vật, phương tiện, giám định, kiểm
nghiệm, kiểm định, xét nghiệm và xác minh
tình tiết liên quan, thì biên bản vi phạm hành
chính được lập đối với các hành vi trong vụ
việc đó trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày xác định được đối tượng vi phạm bằng
phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hoặc
nhận được đầy đủ kết quả xác định giá trị tang
vật, phương tiện, giám định, kiểm nghiệm,
kiểm định, xét nghiệm và xác minh tình tiết
liên quan.
5. Về ký biên bản vi phạm hành chính
Biên bản vi phạm hành chính phải được lập
thành ít nhất 02 bản, phải được người lập biên
bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức
vi phạm ký, trừ trường hợp biên bản được
lập theo quy định tại khoản 7 Điều 58 Luật
Xử lý vi phạm hành chính; trường hợp người
vi phạm không ký được thì điểm chỉ; nếu có
người chứng kiến, người phiên dịch, người
bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại,
thì họ cùng phải ký vào biên bản; trường hợp
biên bản gồm nhiều trang, thì phải ký vào từng
trang biên bản;
Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức
vi phạm không có mặt tại nơi vi phạm hoặc cố
tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà
không ký, điểm chỉ vào biên bản hoặc có mặt
nhưng từ chối ký, điểm chỉ vào biên bản hoặc
trường hợp không xác định được đối tượng
vi phạm hành chính, thì biên bản phải có chữ
ký của đại diện chính quyền cấp xã nơi xảy
ra vi phạm hoặc của ít nhất một người chứng
kiến xác nhận việc cá nhân, tổ chức vi phạm
không ký vào biên bản; trường hợp không có
chữ ký của đại diện chính quyền cấp xã hoặc
của người chứng kiến, thì phải ghi rõ lý do vào
biên bản.
6. Về giao biên bản vi phạm hành chính
Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải
được giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành
chính 01 bản, trừ trường hợp không xác định
được cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính.
Trường hợp vi phạm hành chính không thuộc
thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản, thì
biên bản và các tài liệu khác phải được chuyển
cho người có thẩm quyền xử phạt trong thời
hạn 24 giờ, kể từ khi lập biên bản;
Trường hợp người chưa thành niên vi phạm
hành chính, thì biên bản còn được gửi cho cha
mẹ hoặc người giám hộ của người đó;
Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ
chức vi phạm không có mặt tại nơi lập biên
bản vi phạm hành chính hoặc có mặt nhưng
từ chối nhận hoặc có căn cứ cho rằng cá nhân,
tổ chức vi phạm trốn tránh không nhận biên
bản, thì việc giao biên bản vi phạm hành chính
được thực hiện theo quy định tại Điều 70 Luật
Xử lý vi phạm hành chính về việc gửi quyết
định xử phạt vi phạm hành chính để thi hành.
7. Một số vấn đề cần lưu ý khi lập biên
bản vi phạm hành chính
Thứ nhất, biên bản vi phạm hành chính
không chỉ ghi nhận sự việc mà còn xác định
hành vi vi phạm hành chính, là căn cứ của việc
ban hành quyết định xử phạt. Do đó, nội dung
và tính chất của biên bản vi phạm hành chính
khác với biên bản làm việc, biên bản kiểm tra,
biên bản thanh tra hoặc các loại biên bản khác.
Vì vậy, biên bản vi phạm hành chính phải được
lập cụ thể, rõ ràng, thông tin, số liệu phải chính
xác để người có thẩm quyền có căn cứ để xem
xét ban hành quyết định xử phạt.
Thứ hai, không lập biên bản vi phạm hành
chính đối với trường hợp vi phạm hành chính
bị xử phạt theo thủ tục không lập biên bản vi
phạm hành chính (xử phạt tại chổ) quy định tại
Điều 56 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Thứ ba, một hành vi vi phạm hành chính
chỉ bị lập một biên bản và ra quyết định xử
phạt một lần. Trường hợp hành vi vi phạm đã
bị lập biên bản nhưng chưa ra quyết định xử
phạt mà cá nhân, tổ chức không thực hiện yêu
cầu, mệnh lệnh của người có thẩm quyền, vẫn
cố ý thực hiện hành vi vi phạm đó, thì người
có thẩm quyền phải áp dụng biện pháp ngăn
chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính
phù hợp để chấm dứt hành vi vi phạm. Khi ra
quyết định xử phạt đối với hành vi đó, người
có thẩm quyền xử phạt có thể áp dụng tình tiết
tăng nặng quy định tại điểm...
n TIÊN AN
Nhà thơ Tố Hữu đã viết:
“Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già…”
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí
Minh rất thương yêu và dành
nhiều tình cảm chăm sóc, giáo
dục thiếu niên, nhi đồng. Bác sinh
ra và lớn lên giữa lúc nước mất,
dân tộc bị lầm than, nô lệ, tuổi thơ
Bác gắn với những tháng năm “dữ
dội”; bởi vậy, Người hiểu sâu sắc
sự thiệt thòi, bất hạnh của trẻ em
Việt Nam trước “vận nước gian nan”, Bác đau
lòng trước cảnh:
“Trẻ em cũng bị bận thân cực lòng
Học hành, giáo dục đã không
Nhà nghèo lại phải làm công, cày bừa ...”.
Đối với Bác Hồ, thiếu nhi là lứa tuổi hồn
nhiên, thơ ngây, trong sáng chưa đủ để nhận
thức nên rất cần được chăm sóc, giáo dục tốt
mới trở thành công dân có ích, thế hệ gánh vác
sứ mệnh đất nước sau này, là người chủ tương
lai của nước nhà nên Bác luôn quan tâm giáo
dục và theo Bác là cần phải sớm rèn luyện đạo
đức cách mạng cho trẻ em. Bởi vậy, từ sau
Cách mạng Tháng Tám 1945 cho đến trước
lúc “đi xa”, Bác đã dành nhiều tâm huyết, tình
cảm giáo dục thế hệ trẻ thông qua nhiều bức
thư và những bài thơ chứa chan tình thương
yêu của Người.
Năm nay chúng ta kỷ niệm 72 năm, ngày
Quốc tế thiếu nhi (1/6/1950 - 1/6/2022). Kỷ
niệm ngày này, loài người không thể quên
hàng mấy trăm trẻ em vô tội ở làng Li-đi-xơ
thuộc Tiệp Khắc (1942) và ở thị trấn Ô-ra-đua
thuộc Pháp (1944) đã bị quân đội phát xít Hítle
tàn sát cực kỳ man rợ, mặc cho tiếng kêu gào
thảm thiết của các em. Kể từ ngày khủng khiếp
ấy, bao người vẫn chưa dứt cơn ác mộng về
chiến tranh và càng thấy trách nhiệm hơn. Với
(Ảnh sưu tầm)
trách nhiệm thiêng liêng và cao quý, năm 1949
Liên đoàn Phụ nữ dân chủ Quốc tế đã quyết
định lấy ngày 1/6 hằng năm làm ngày quốc tế
bảo vệ thiếu nhi, nhằm đòi chính phủ các nước
phải nhận trách nhiệm về đời sống thiếu nhi,
đòi giảm ngân sách quân sự để tăng ngân sách
giáo dục, bảo vệ và chăm sóc thiếu niên, nhi
đồng. Năm 1959, Tuyên bố về quyền trẻ em
được ra đời; năm 1989, Công ước về quyền trẻ
em cũng được ký kết vào ngày này, có hơn 191
nước phê chuẩn. Việt Nam là nước đầu tiên ở
châu Á và nước thứ hai của thế giới ký vào
Công ước này.
Ở nước ta, Ngày Quốc tế Thiếu nhi đầu tiên
(1/6/1950) trong giai đoạn cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp. Lúc này dân tộc ta đang
trải qua thời kỳ cam go ác liệt nhất, nhưng Bác
Hồ vẫn luôn nghĩ tới thiếu nhi cả nước và gửi
thư chúc mừng các cháu thiếu niên, nhi đồng.
Bác viết: “Bác thương các cháu lắm, Bác hứa
với các cháu rằng đến ngày đánh đuổi hết
giặc Pháp, kháng chiến thành công, Bác cùng
Chính phủ và các đoàn thể sẽ cố gắng làm cho
các cháu dần dần được no ấm, được vui chơi,
được học hành, được vui sướng…”. Cũng từ
đó, hằng năm cứ đến ngày Tết thiếu nhi và Tết
Trung thu, thiếu nhi cả nước ta lại hân hoan
đón thư chúc mừng của Bác Hồ. Thư của Bác
1
thường gọn, lời lẽ âu yếm, giản dị rất dễ nhớ,
dễ thuộc nên dễ đi vào tâm hồn trẻ thơ. Trong
thư của Bác ngoài chứa đựng tư tưởng lớn, còn
là những lời chỉ bảo ân cần, dạy dỗ thiếu niên,
nhi đồng từ việc nhỏ đến việc lớn rất cụ thể:
“Ở nhà phải nghe lời bố mẹ. Đi học phải siêng
năng. Đối với thầy phải kính trọng, lễ phép.
Đối với bạn phải đoàn kết, thương yêu giúp đỡ
lẫn nhau”; “Giữ kỷ luật, chớ tự do phóng túng,
vì tự do phóng túng là không tốt”; “Phải yêu
Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động”; “Phải
thật thà, dũng cảm”; “Việc gì có ích cho kháng
chiến, có ích cho Tổ quốc thì các cháu nên
gắng sức làm. Tuổi các cháu còn nhỏ, nhiều
công việc nhỏ cộng lại thành công việc to”...
Tình yêu thương của Bác Hồ bao la vô hạn,
Người đã quên mình dành “hết thảy” cho mọi
người dân Việt Nam và cho những ai lao khổ,
bị áp bức, đọa đày trên toàn thế giới. Theo Bác,
khi đất nước bị nô lệ thì người già và trẻ em
chịu nhiều thiệt thòi nhất. Tình yêu thương và
sự quan tâm được Người thể hiện trong các bài
nói, nhiều bức thư và thơ. Trong những năm
bôn ba đi tìm đường cứu nước, chứng kiến trẻ
em ở các nước thuộc địa cũng bị lầm than, cơ
cực, Bác nghĩ về đất nước, thương thiếu niên,
nhi đồng ở nước nhà đang bị chà đạp, bất hạnh
trong nỗi đau chung của người dân mất nước.
Hơn hết, Bác Hồ đặc biệt quan tâm và luôn
luôn nhắc nhở, khích lệ các cháu là học tập,
học sao cho tốt, cho giỏi, bởi rằng … “Non
sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không,
dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai
các cường quốc năm châu hay không chính
là nhờ một phần lớn ở công học tập của các
cháu…”. Con người là vốn quý, thiếu nhi là
vốn quý nhất trong vốn quý ấy. Bác Hồ chỉ
rõ: “Ngày nay chúng là thiếu nhi, ít năm sau
chúng sẽ là công dân, cán bộ”. Điều này có
nghĩa rằng hôm nay chúng ta chuẩn bị cho
các em như thế nào, nay mai hệ quả gặt hái
được sẽ như thế ấy. Nhằm mục tiêu đào tạo
các em thành “người chủ tương lai của nước
nhà, người công dân tốt, người cán bộ tốt của
nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập,
dân chủ và giàu mạnh”. Bác Hồ đặt ra yêu cầu
thực hiện giáo dục toàn diện đối với thiếu nhi.
Vào dịp kỷ niệm lần thứ 20 Ngày thành lập
2
Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Người
đã gửi thư cho thiếu niên, nhi đồng cả nước và
căn dặn năm điều:
“Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào.
Học tập tốt, lao động tốt.
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt.
Giữ gìn vệ sinh thật tốt.
Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm.”
Năm điều Bác dạy thiếu nhi hàm chứa
những truyền thống quý báu từ bao đời nay
của dân tộc ta. Đó là truyền thống yêu nước
nồng nàn, kiên cường chiến đấu chống mọi kẻ
thù xâm lược, ham học hỏi, cầu tiến bộ; đoàn
kết, nhân ái, thương người như thể thương
thân, lao động cần cù, dũng cảm, sáng tạo
và mối quan hệ tin cậy chân thật trong cộng
đồng… Năm điều Bác Hồ dạy thiếu nhi phản
ánh những đặc trưng cơ bản của lớp người mới
được hình thành trong quá trình xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa mang tính
toàn diện rõ rệt. Năm điều ấy cũng phản ánh
nguyên lý giáo dục mới của Đảng ta là học đi
đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động,
sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội. Tất
cả các em cũng như các nhà giáo dục, các cán
bộ làm công tác thiếu nhi, các bậc cha mẹ…
cần luôn luôn thấm nhuần, quán triệt nội dung
Năm điều Bác Hồ dạy trong mọi môi trường
giáo dục, rèn luyện, để các em phấn đấu trở
thành con ngoan, trò giỏi, đội viên tốt, Cháu
ngoan Bác Hồ.
Cùng với Năm điều Bác dạy đó, di sản lý
luận và những lời dạy, những kinh nghiệm
thực tiễn về giáo dục thiếu nhi mà Bác đã để
lại cho chúng ta hết sức phong phú trên nhiều
bình diện. Trách nhiệm nặng nề, khó khăn của
chúng ta là quán triệt, thấm nhuần và vận dụng
những tư tưởng, luận điểm, lời dạy của Người
sao cho đúng, sao cho hiệu quả vào cuộc sống.
Bác dạy: “Trồng người phải mất trăm năm”;
giáo dục thiếu nhi “phải giữ toàn vẹn cái tính
vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của
chúng, chớ nên làm cho chúng hoá ra những
người già sớm” và Bác luôn căn dặn chúng ta
việc dạy chữ phải luôn đi đôi với việc dạy các
em làm người; việc chăm sóc luôn phải đi đôi
(xem tiếp trang 4)
ĐẢNG ỦY SỞ TƯ PHÁP TỔ CHỨC LỄ TRAO TẶNG
HUY HIỆU 30 NĂM TUỔI ĐẢNG CHO ĐẢNG VIÊN
THUỘC ĐẢNG BỘ SỞ TƯ PHÁP
n
THÙY TRANG
Hòa trong không khí
phấn khởi của toàn tỉnh
hăng hái thi đua lập thành
tích chào mừng kỷ niệm 132
năm ngày sinh Chủ tịch Hồ
Chí Minh vĩ đại (19/5/1890
-19/5/2022). Được sự nhất
trí của Ban Thường vụ Đảng
ủy Khối Cơ quan và Doanh
nghiệp tỉnh, sáng ngày 19
tháng 5 năm 2022, Đảng ủy
Sở Tư pháp đã long trọng tổ
chức Lễ trao tặng Huy hiệu
30 năm tuổi Đảng cho đồng
chí Nguyễn Thanh Sơn Phó Giám đốc Sở Tư pháp
Đồng chí Nguyễn Thanh Sơn và đồng chí Phan Bá Mỹ chụp ảnh
và đồng chí Phan Bá Mỹ
kỷ niệm cùng các đảng viên khối Văn phòng Sở
- Trưởng phòng Phổ biến,
giáo dục pháp luật, Sở Tư pháp.
Tham dự và chỉ đạo buổi Lễ có đồng chí Võ giai đoạn năm 1989 - 1991 được đánh giá là
Văn Phúc - Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng giai đoạn lịch sử khó khăn đối với Việt Nam
Ban Tổ chức Đảng ủy Khối Cơ quan và Doanh nói riêng và phong trào cộng sản quốc tế nói
nghiệp tỉnh, đồng chí Đào Chuẩn - Giám đốc chung, do đó, những cán bộ, chiến sĩ được kết
Sở Tư pháp; đồng chí Nguyễn Văn Hưng - Bí nạp đảng trong giai đoạn này thể hiện cho sự
thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, các trung thành tuyệt đối và niềm tin mãnh liệt đối
đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Sở với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tư pháp, Bí thư các Chi bộ trực thuộc cùng Có thể nói, huy hiệu 30 năm tuổi Đảng chính
là sự ghi nhận quá trình phấn đấu, rèn luyện,
toàn thể đảng viên Khối Văn phòng Sở.
Trong không khí trang nghiêm của buổi đóng góp của 02 đồng chí đảng viên trong sự
lễ, thay mặt Đảng ủy Khối cơ quan và doanh nghiệp bảo vệ, xây dựng Tổ quốc. Qua buổi lễ
nghiệp tỉnh, đồng chí Võ Văn Phúc, Ủy viên hôm nay, đồng chí mong muốn 02 đảng viên
Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tổ chức Đảng được trao tặng Huy hiệu Đảng sẽ luôn giữ gìn,
ủy Khối cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh đã trao bảo quản danh hiệu cao quý này để sử dụng
tặng Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng cho đồng chí trong những dịp kỷ niệm trọng đại của bản
Nguyễn Thanh Sơn và đồng chí Phan Bá Mỹ. thân, cơ quan, đơn vị cũng như của đất nước;
Phát biểu tại buổi Lễ, đồng chí đã tóm lược một đồng thời tiếp tục phát huy truyền thống đoàn
số điểm nổi bật trong quá trình phấn đấu, rèn kết, thống nhất, tiền phong, gương mẫu, phấn
luyện và tu dưỡng của đồng chí Nguyễn Thanh đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao,
Sơn và đồng chí Phan Bá Mỹ. Theo đồng chí, góp phần vào thực hiện thắng lợi mọi nhiệm
3
vụ công tác Đảng bộ và của cơ quan nơi mình
công tác.
Trân trọng những tình cảm của Đảng ủy Sở
và đồng chí Võ Văn Phúc, đồng chí Nguyễn
Thanh Sơn đã có đôi lời tâm sự gửi đến toàn
thể đảng viên tham dự. Đồng chí được kết
nạp vào Đảng ngày 13 tháng 12 năm 1991 và
trưởng thành từ sinh viên, giáo viên. Trong
suốt ba mươi năm tôi luyện, đồng chí đã kinh
qua các chức vụ, đơn vị công tác từ Tỉnh đoàn,
Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh, Hội đồng
nhân dân tỉnh và nay là Sở Tư pháp tỉnh Thừa
Thiên Huế. Dù ở bất kỳ cương vị nào, đồng
chí đều phát huy phẩm chất của người cán bộ,
đảng viên, luôn nêu cao tinh thần gương mẫu,
không ngừng phấn đấu, rèn luyện và là niềm tự
hào của cơ quan, đơn vị.
Cùng chia sẻ tâm trạng xúc động tại buổi
lễ, đồng chí Phan Bá Mỹ cũng đã gửi lời cám
ơn chân thành đến Đảng ủy Sở, Đảng ủy
Khối và tập thể Lãnh đạo Sở Tư pháp. Đối
với đồng chí, thời khắc được nhận Huy hiệu
Đảng chính là bước ngoặt trong quá trình từ
một chiến sỹ công binh trẻ tuổi, không quản
khó khăn để xung phong góp phần xây dựng
Quần đảo Trường Sa, đến khi trưởng thành và
công tác tại Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế.
Phát huy phẩm chất bộ đội cụ Hồ, đồng chí
luôn là người cán bộ mẫu mực, dành được sự
tôn trọng của các đảng viên, quần chúng tại cơ
quan, đơn vị.
Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng không chỉ là
một danh hiệu cao quý, một phần thưởng xứng
đáng dành cho người cán bộ, đảng viên kiên
trung của Đảng, là sự đánh dấu quan trọng
trong sự phát triển của Đảng bộ Sở Tư pháp,
mà còn là tấm gương sáng để thế hệ đảng viên
trẻ học tập và noi theo./.
Bác Hồ với thiếu niên, nhi đồng
với việc bảo vệ thiếu nhi, giáo dục trong tổ
chức Đội…, nếu bảo vệ không tốt sẽ làm hạn
chế, thậm chí xâm hại đến thành quả giáo dục.
Và còn biết bao nội dung, luận điểm về giáo
dục thiếu nhi của Bác mà chúng ta cần dành
nhiều tâm lực, thời gian để nghiên cứu, quán
triệt, vận dụng trong điều kiện mới.
Trước lúc đi xa, qua “Di chúc” thiêng liêng,
Bác gửi muôn vàn tình yêu thương cho dân tộc
Việt Nam, trong đó Người không quên nhắc
đến thế hệ thiếu niên, nhi đồng bằng những
tình cảm đặc biệt: “Cuối cùng, tôi để lại muôn
vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho
toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi
đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các
đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên,
nhi đồng quốc tế”. Bác đã đi xa nhưng những
lời căn dặn, hành động, tình cảm của Bác sẽ
mãi mãi khắc sâu trong tâm trí thiếu nhi nói
riêng và mỗi người dân Việt nói chung.
Ngày nay, thực hiện tư tưởng và Di chúc
của Bác Hồ, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm
đến thiếu niên, nhi đồng, chú trọng công tác
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Trong
đời sống xã hội, Đảng, Quốc hội, Chính phủ
4
(tiếp theo trang 2)
đã ban hành Hiến pháp, Luật, hàng trăm văn
bản để bảo vệ quyền trẻ em. Như: Hiến pháp
năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013),
đặc biệt là quyền tham gia của trẻ em đã được
quy định trong Luật trẻ em 2016; Nghị định
56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính
phủ quy định chi tiết một số điều của Luật trẻ
em, Bộ luật Hình sự, Bộ Luật Tố tụng hình
sự... Lòng yêu thương và những lời dạy của
Bác Hồ vẫn luôn đồng hành cùng thiếu niên,
nhi đồng mọi thời đại. Lời dạy “Vì lợi ích
mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng
người” của Bác Hồ đã, đang và sẽ tiếp tục
được toàn Đảng, toàn dân ta học tập, làm theo
với phương châm “trẻ em hôm nay, thế giới
ngày mai”! Nhớ ơn Bác, toàn thể thiếu niên,
nhi đồng Việt Nam nguyện cố gắng học tập,
tu dưỡng và rèn luyện thật tốt, trở thành con
ngoan, trò giỏi để xứng đáng với danh hiệu
“cháu ngoan Bác Hồ” và sẽ mãi mãi “Ai yêu
Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên, nhi đồng.
Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu nhi Việt
Nam… Hồ Chí Minh kính yêu chúng em kính
yêu Bác Hồ Chí Minh trọn một đời” như lời
nhạc sĩ Phong Nhã đã viết./.
MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC QUA 15 NĂM
THI HÀNH LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI SỞ TƯ PHÁP
n
THIÊN AN
Trên cơ sở Chương trình, Kế
hoạch của Bộ Tư pháp và Ủy
ban nhân dân tỉnh về hoạt động
bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ
nữ, thời gian qua, Sở Tư pháp đã
ban hành và tổ chức thực hiện
nhiều hoạt động bình đẳng giới,
vì sự tiến bộ phụ nữ của ngành
tại địa phương qua các giai đoạn
2007 - 2010, 2011 - 2015, 2016
- 2020 và giai đoạn 2021 - 2025.
Trong đó, đã đưa nội dung hoạt
động bình đẳng giới vào chương
trình công tác hàng năm của cơ
quan để tổ chức thực hiện lồng Lãnh đạo Sở Tư pháp tặng hoa, chúc mừng công chức, viên chức,
ghép với các hoạt động chuyên
người lao động nữ nhân kỷ niệm ngày Quốc tế phụ nữ 08 - 3
môn và đạt được một số kết quả
đáng ghi nhận, như sau:
Với vai trò là cơ quan thường trực của Hội pháp luật”. Thường xuyên bổ sung các đầu
đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục sách về phòng, chống bạo lực gia đình, phòng
pháp luật tỉnh, công tác quán triệt, phổ biến, ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới cho
giáo dục pháp luật về bình đẳng giới được Sở Tủ sách pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho
Tư pháp tổ chức với nhiều hình thức đa dạng, cán bộ, công chức, viên chức tìm đọc, nghiên
phong phú, như: Ký hợp đồng tuyên truyền, cứu nhằm nâng cao nhận thức và ý thức trách
phổ biến, giáo dục pháp luật với Báo Thừa nhiệm trong công tác phòng, chống bạo lực gia
Thiên Huế, Đài phát thanh truyền hình tỉnh đình, phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên
để tuyên truyền, phổ biến nội dung của Luật cơ sở giới... Đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
Bình đẳng giới; biên soạn, biên tập bài tại các phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý
ấn phẩm do Sở Tư pháp phát hành như: Bản tin gắn với việc triển khai thực hiện đưa nội dung
Tư pháp, sách “Bạn và những điều cần biết về tuyên truyền, phổ biến Luật phòng, chống bạo
pháp luật”, sách “Pháp luật với công dân”, sách lực gia đình, phòng ngừa và ứng phó với bạo
“Tài liệu phổ biến pháp luật cho đối tượng đặc lực trên cơ sở giới vào chương trình phổ biến,
thù nạn nhân bạo lực gia đình”, sách “Hướng giáo dục pháp luật các huyện, thị xã, thành phố,
dẫn nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở” cùng hàng các tổ hòa giải ở cơ sở thực hiện tốt công tác
trăm nghìn tờ gấp pháp luật có nội dung liên tuyên truyền, vận động đặc biệt là hòa giải các
quan về phòng, chống bạo lực gia đình, bình mâu thuẫn và tranh chấp giữa các thành viên
đẳng giới… để cấp phát cho nhân dân tại cơ trong gia đình, góp phần ngăn chặn bạo lực gia
sở và làm tài liệu tuyên truyền. Lồng ghép nội đình, bạo lực trên cơ sở giới.
dung bình đẳng giới trong các đợt, buổi sinh
Thực hiện Thông tư liên tịch số 07/2011/
hoạt quán triệt các chủ trương của Đảng, chính TT-BTP ngày 31/3/2011 của Bộ Tư pháp,
sách pháp luật của Nhà nước, sinh hoạt “Ngày nhằm đảm bảo bình đẳng giới trong hoạt động
5
trợ giúp pháp lý, Sở Tư pháp đã phối hợp với
Hội liên hiệp phụ nữ các cấp, Liên đoàn lao
động tỉnh triển khai thực hiện Chương trình
phối hợp liên ngành về “Thực hiện lồng ghép
giới trong hoạt động trợ giúp pháp lý giai đoạn
2007 - 2009”, Kế hoạch thực hiện Đề án “Giáo
dục 5 triệu bà mẹ nuôi, dạy con tốt” tỉnh Thừa
Thiên Huế, giai đoạn 2012-2015, Quyết định
của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án
“Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân
cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số
giai đoạn 2015 - 2025” và các Kế hoạch liên
ngành của Sở Tư pháp và Hội liên hiệp phụ nữ
tỉnh về thực hiện công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật, trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật
cho phụ nữ. Qua đó, đã thực hiện trợ giúp pháp
lý lưu động cho phụ nữ có con dưới 16 tuổi,
tập huấn kiến thức về quyền trẻ em, nâng cao
hiểu biết kiến thức pháp luật về Luật Phòng,
chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới,
Luật Trợ giúp pháp lý, Công ước Liên hợp
quốc về quyền trẻ em (CRC)..., xóa bỏ phân
biệt đối xử về giới trong gia đình, tạo cơ hội
và quyền bình đẳng cho bé trai và bé gái, hạn
chế tình trạng bạo lực trong gia đình tại các xã
Bình Điền, Hải Dương của thị xã Hương Trà,
xã Hương Giang, thị trấn Khe Tre của huyện
Nam Đông. Cấp phát hơn 120.000 nghìn tờ
gấp, tờ rơi pháp luật, riêng về phòng, chống
bạo lực gia đình, Bình đẳng giới hơn 40 nghìn
tờ và hơn 5 nghìn tờ gấp tờ rơi tiếng dân tộc
thiểu số, cấp phát miễn phí cho nhân dân, cho
phụ nữ tại địa phương nhằm triển khai các văn
bản pháp luật đến với nhân dân được dễ dàng
và sâu rộng hơn. 15 năm qua, Trung tâm Trợ
giúp pháp lý Nhà nước thực hiện trợ giúp pháp
lý cho phụ nữ 5.512 vụ việc, trong đó phụ nữ
bị bạo lực gia đình: 1.918 vụ việc, trẻ em gái
bị xâm hại: 732 vụ việc; phụ nữ, trẻ em gái
là bị cáo vi phạm pháp luật hình sự: 635 vụ
việc, phụ nữ thuộc hộ nghèo, người dân tộc:
2.227 vụ việc. Thông qua việc lồng ghép tuyên
truyền, phổ biến pháp luật và trợ giúp pháp lý
tại các đợt trợ giúp pháp lý lưu động đã thu hút
hơn 23.563 lượt người tham gia, tư vấn 8.832
vụ việc, trong đó số lượng phụ nữ tham gia
khoảng hơn 11.000 người tại các đợt trợ giúp
pháp lý.
6
Công tác lồng ghép vấn đề bình đẳng giới
trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật,
chính sách, chương trình được tổ chức thực
hiện nghiêm túc theo quy định. Trong 15 năm
qua, 100% dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật của HĐND và UBND tỉnh ban hành đều
được Sở Tư pháp thẩm định, đánh giá việc lồng
ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn
bản theo đúng nguyên tắc của Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật (năm 2015), Luật
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật (năm 2020),
Luật Bình đẳng giới (năm 2006) và các văn
bản hướng dẫn thi hành. Công tác rà soát văn
bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo
định kỳ. Hằng năm, UBND tỉnh đều xây dựng
Kế hoạch thực hiện rà soát văn bản quy phạm
pháp luật do HĐND, UBND tỉnh ban hành
với mục đích xem xét lại các văn bản đã ban
hành nhằm phát hiện những nội dung chồng
chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp với
pháp luật để tự mình hoặc đề nghị cấp có thẩm
quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Qua
rà soát, có 03 văn bản quy phạm pháp luật
hết hiệu lực, gồm 02 Nghị quyết và 01 Quyết
định. Tổ chức 15 Hội nghị tập huấn cho cán
bộ làm công tác pháp chế tại các Sở, ngành,
địa phương, trong đó, có lồng ghép nội dung
tập huấn kiến thức về giới, phân tích giới và
lồng ghép giới cho thành viên Ban soạn thảo
văn bản quy phạm pháp luật được xác định có
nội dung liên quan đến bình đẳng giới hoặc có
vấn đề bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về
giới; cử thành viên các Ban soạn thảo, Tổ biên
tập xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật tham dự các lớp tập huấn về công tác bình
đẳng giới và công tác lồng ghép giới trong việc
thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, qua đó đã
nâng cao nhận thức, năng lực, kỹ năng hoạt
động trong lĩnh vực này.
Công tác đảm bảo thực hiện các quy định
về bình đẳng giới trong công tác tổ chức tại cơ
quan trong những năm qua được Sở Tư pháp
quan tâm, chú trọng đến công tác quy hoạch
đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, nhất là đối
với cán bộ nữ. Trên cơ sở đánh giá năng lực,
phẩm chất đội ngũ cán bộ, công chức của cơ
(xem tiếp trang 10)
CÁC NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN
LẬP BIÊN BẢN VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ MỘT SỐ
VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý
n NGUYỄN
VĂN HÓA
Biên bản vi phạm hành chính
là cơ sở pháp lý quan trọng để
người có thẩm quyền ban hành
quyết định xử phạt vi phạm hành
chính. Lập biên bản vi phạm
hành chính là một thủ tục được
thực hiện trong quy trình xử phạt
vi phạm hành chính (trừ trường
hợp xử phạt vi phạm hành chính
không lập biên bản theo quy
định tại Điều 56 Luật Xử lý vi
phạm hành chính).
Lập một biên bản vi phạm
hành chính đúng với quy định
pháp luật là nhiệm vụ quan trọng
đối với cán bộ, công chức được Sở Tư pháp tham dự Hội nghị tập huấn chuyên sâu về pháp luật
phân công tham mưu thiết lập
xử phạt vi phạm hành chính tại thành phố Đà Nẵng
biên bản vi phạm hành chính.
Từ thực tiễn thi hành, trong bài viết này tôi xin chính phải lập biên bản vi phạm hành chính
trao đổi một số nội dung có liên quan đến lập bao gồm:
biên bản vi phạm hành chính như sau:
(i) Trường hợp thứ nhất là trong quyết định
1. Các trường hợp người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có hình thức phạt
phải lập biên bản vi phạm hành chính
tiền mà mức phạt tiền trên 250.000 đồng đối
Luật Xử lý vi phạm hành chính không quy với cá nhân, trên 500.000 đồng đối với tổ chức;
định cụ thể về các vụ việc vi phạm thuộc trường
(ii) Trường hợp thứ hai là trong quyết định
hợp phải lập biên bản vi phạm hành chính mà xử phạt vi phạm hành chính có hình thức xử
thiết kế theo phương pháp loại trừ: Xử phạt phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm
vi phạm hành chính có lập biên bản được áp hành chính; tước quyền sử dụng giấy phép,
dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của chứng chỉ hành nghề có thời hạn; đình chỉ hoạt
cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không động có thời hạn; hình thức xử phạt trục xuất
thuộc trường hợp quy định tại đoạn 1 khoản 1 và biện pháp khắc phục hậu quả.
Điều 56 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
(iii) Trường hợp thứ ba là vi phạm hành
Căn cứ một số quy định có liên quan đến việc chính được phát hiện nhờ sử dụng phương
lập biên bản vi phạm hành chính trong Luật tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ.
Xử lý vi phạm hành chính (Điều 57, Điều 58,
2. Xác định chủ thể có thẩm quyền lập
Điều 63), Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày biên bản vi phạm hành chính
23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết
Trên cơ sở quy định của Luật Xử lý vi
một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử phạm hành chính, Nghị định số 118/2021/
lý vi phạm hành chính (Điều 12) có thể xác NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy
định các trường hợp xử phạt vi phạm hành định chi tiết một số điều và biện pháp thi
7
hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, thì chủ
thể có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành
chính, bao gồm:
(i) Người có thẩm quyền xử phạt;
(ii) Công chức, viên chức;
(iii) Người thuộc lực lượng Quân đội nhân
dân, Công an nhân dân và người làm công tác
cơ yếu đang thi hành công vụ, nhiệm vụ;
(iv) Người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng,
trưởng tàu và những người được chỉ huy tàu
bay, thuyền trưởng, trưởng tàu giao nhiệm vụ
lập biên bản.
Lưu ý: Theo quy định tại Điều 6 Nghị định
số 118/2021/NĐ-CP thì các chức danh có thẩm
quyền lập biên bản vi phạm hành chính được
quy định cụ thể tại các nghị định quy định về
xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh
vực quản lý nhà nước.
3. Về nội dung của biên bản vi phạm
hành chính
Biên bản vi phạm hành chính phải bao gồm
các nội dung cơ bản sau đây:
- Ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản;
- Họ và tên, chức vụ người lập biên bản;
- Thông tin về cá nhân, tổ chức vi phạm và
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
- Giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra
vi phạm;
- Mô tả cụ thể, đầy đủ vụ việc, hành vi
vi phạm;
- Biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi
phạm hành chính;
- Lời khai của người vi phạm hoặc đại diện
tổ chức vi phạm (đại diện theo pháp luật hoặc
đại diện theo ủy quyền);
- Lời khai của người chứng kiến, người bị
thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại (nếu
có); ý kiến của cha mẹ hoặc của người giám
hộ trong trường hợp người chưa thành niên vi
phạm hành chính (nếu có);
- Quyền và thời hạn giải trình về vi phạm
hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm,
cơ quan của người có thẩm quyền tiếp nhận
giải trình; trường hợp cá nhân, tổ chức
không yêu cầu giải trình, thì phải ghi rõ ý
kiến vào biên bản;
- Thời gian, địa điểm người vi phạm hoặc
đại diện tổ chức vi phạm phải có mặt để giải
quyết vụ việc;
- Họ và tên người nhận, thời gian nhận
8
biên bản trong trường hợp biên bản được giao
trực tiếp.
4. Về thời hạn lập biên bản vi phạm
hành chính
Theo quy định hiện hành thì thời hạn lập
biên bản vi phạm hành chính được thực hiện
như sau:
(i) Biên bản vi phạm hành chính được lập
trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ khi phát
hiện vi phạm hành chính;
(ii) Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết
phức tạp hoặc có phạm vi rộng, ảnh hưởng
đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ
chức, thì biên bản vi phạm hành chính được
lập trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi
phát hiện vi phạm hành chính;
(iii) Trường hợp vi phạm hành chính được
phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật
nghiệp vụ hoặc phải xác định giá trị tang vật,
phương tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm
định, xét nghiệm và xác minh tình tiết liên
quan, thì biên bản vi phạm hành chính được
lập trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày
xác định được đối tượng vi phạm bằng phương
tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hoặc nhận
được kết quả xác định giá trị tang vật, phương
tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét
nghiệm và xác minh tình tiết liên quan;
(iv) Trường hợp vi phạm hành chính xảy ra
trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa, thì người có thẩm
quyền lập biên bản vi phạm hành chính hoặc
người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng
tàu có trách nhiệm lập biên bản vi phạm hành
chính và chuyển cho người có thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 02
ngày làm việc, kể từ khi tàu bay, tàu biển, tàu
hỏa về đến sân bay, bến cảng, nhà ga;
(v) Trường hợp một vụ việc có nhiều hành
vi vi phạm hành chính khác nhau, trong đó
có hành vi được phát hiện bằng phương tiện,
thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hoặc phải xác định
giá trị tang vật, phương tiện, giám định, kiểm
nghiệm, kiểm định, xét nghiệm và xác minh
tình tiết liên quan, thì biên bản vi phạm hành
chính được lập đối với các hành vi trong vụ
việc đó trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày xác định được đối tượng vi phạm bằng
phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hoặc
nhận được đầy đủ kết quả xác định giá trị tang
vật, phương tiện, giám định, kiểm nghiệm,
kiểm định, xét nghiệm và xác minh tình tiết
liên quan.
5. Về ký biên bản vi phạm hành chính
Biên bản vi phạm hành chính phải được lập
thành ít nhất 02 bản, phải được người lập biên
bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức
vi phạm ký, trừ trường hợp biên bản được
lập theo quy định tại khoản 7 Điều 58 Luật
Xử lý vi phạm hành chính; trường hợp người
vi phạm không ký được thì điểm chỉ; nếu có
người chứng kiến, người phiên dịch, người
bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại,
thì họ cùng phải ký vào biên bản; trường hợp
biên bản gồm nhiều trang, thì phải ký vào từng
trang biên bản;
Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức
vi phạm không có mặt tại nơi vi phạm hoặc cố
tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà
không ký, điểm chỉ vào biên bản hoặc có mặt
nhưng từ chối ký, điểm chỉ vào biên bản hoặc
trường hợp không xác định được đối tượng
vi phạm hành chính, thì biên bản phải có chữ
ký của đại diện chính quyền cấp xã nơi xảy
ra vi phạm hoặc của ít nhất một người chứng
kiến xác nhận việc cá nhân, tổ chức vi phạm
không ký vào biên bản; trường hợp không có
chữ ký của đại diện chính quyền cấp xã hoặc
của người chứng kiến, thì phải ghi rõ lý do vào
biên bản.
6. Về giao biên bản vi phạm hành chính
Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải
được giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành
chính 01 bản, trừ trường hợp không xác định
được cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính.
Trường hợp vi phạm hành chính không thuộc
thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản, thì
biên bản và các tài liệu khác phải được chuyển
cho người có thẩm quyền xử phạt trong thời
hạn 24 giờ, kể từ khi lập biên bản;
Trường hợp người chưa thành niên vi phạm
hành chính, thì biên bản còn được gửi cho cha
mẹ hoặc người giám hộ của người đó;
Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ
chức vi phạm không có mặt tại nơi lập biên
bản vi phạm hành chính hoặc có mặt nhưng
từ chối nhận hoặc có căn cứ cho rằng cá nhân,
tổ chức vi phạm trốn tránh không nhận biên
bản, thì việc giao biên bản vi phạm hành chính
được thực hiện theo quy định tại Điều 70 Luật
Xử lý vi phạm hành chính về việc gửi quyết
định xử phạt vi phạm hành chính để thi hành.
7. Một số vấn đề cần lưu ý khi lập biên
bản vi phạm hành chính
Thứ nhất, biên bản vi phạm hành chính
không chỉ ghi nhận sự việc mà còn xác định
hành vi vi phạm hành chính, là căn cứ của việc
ban hành quyết định xử phạt. Do đó, nội dung
và tính chất của biên bản vi phạm hành chính
khác với biên bản làm việc, biên bản kiểm tra,
biên bản thanh tra hoặc các loại biên bản khác.
Vì vậy, biên bản vi phạm hành chính phải được
lập cụ thể, rõ ràng, thông tin, số liệu phải chính
xác để người có thẩm quyền có căn cứ để xem
xét ban hành quyết định xử phạt.
Thứ hai, không lập biên bản vi phạm hành
chính đối với trường hợp vi phạm hành chính
bị xử phạt theo thủ tục không lập biên bản vi
phạm hành chính (xử phạt tại chổ) quy định tại
Điều 56 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Thứ ba, một hành vi vi phạm hành chính
chỉ bị lập một biên bản và ra quyết định xử
phạt một lần. Trường hợp hành vi vi phạm đã
bị lập biên bản nhưng chưa ra quyết định xử
phạt mà cá nhân, tổ chức không thực hiện yêu
cầu, mệnh lệnh của người có thẩm quyền, vẫn
cố ý thực hiện hành vi vi phạm đó, thì người
có thẩm quyền phải áp dụng biện pháp ngăn
chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính
phù hợp để chấm dứt hành vi vi phạm. Khi ra
quyết định xử phạt đối với hành vi đó, người
có thẩm quyền xử phạt có thể áp dụng tình tiết
tăng nặng quy định tại điểm...
 





